Chủ tịch
Hội đồng quản trị
QUẢNG CÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Nhóm kinh doanh
Lượt truy cập:
341,569

Tin tức & Sự kiện
Bài thảo luận chính sách số 3

Bài thảo luận chính sách số 3: Nguyên nhân sâu xa về mặt cơ cấu của bất ổn vĩ mô (II)
Trường Harvard Kennedy & Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright


Phần III. Hoạt động ngân hàng và thị trường bất động sản

Một hệ thống ngân hàng hiệu quả và ổn định chính là cỗ máy cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Hiện nay, nhiều hay thậm chí hầu hết các ngân hàng Việt Nam không được quản lý theo chuẩn mực quốc tế. Họ gánh quá nhiều rủi ro, trong khi không đủ minh bạch và không đưa ra những dự phòng đủ mạnh cho tài sản không sinh lợi. Các doanh nghiệp hiệu quả thì gặp khó khăn trong việc vay vốn. Đồng thời, các doanh nghiệp lớn của nhà nước lại mở hay góp vốn đa số vào những ngân hàng cổ phần, giúp chính họ tận dụng vay nợ để khai thác tài sản nhà nước như đất đai và tài nguyên thiên nhiên. Đáng lo ngại hơn là làn sóng các công ty tài chính mới mọc lên. Đây là một ngành hầu như không được kiểm soát nên sẽ mở ra nhiều cơ hội bị lạm dụng. Các khoản nợ xấu do các công y tài chính không được kiểm soát là nguyên nhân chính gây ra sự tan rã tài chính của Thái-lan năm 1997. Đa số những công ty này đã bị đóng cửa sau giai đoạn khủng hoảng, và chúng đã để lại một gánh nặng tài chính khổng lồ lên vai Chính phủ và toàn bộ nền kinh tế Thái-lan.

A. Rủi ro quá mức trên thị trường bất động sản

Sau 3 tháng (tháng 4-6/2008) tăng lãi suất tiền gửi để thu hút người gửi tiền, thắt chặt tiêu chí cho vay và tái định giá danh mục cho vay, các khoản lỗ bắt đầu xuất hiện trên bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tính đến nay, đã có 20 ngân hàng (tất cả đều là ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ) báo cáo hoạt động thua lỗ trong tháng 7. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có số liệu đáng tin cậy về các khoản nợ khó đòi và hoạt động cho vay liên quan đến bất động sản của các ngân hàng trong giai đoạn khan hiếm tín dụng bắt đầu từ quí I-2008. Nhưng việc phân tích các số liệu co vay của ngân hàng ở TP.HCM cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn còn yếu, và một số những ngân hàng này có thể không trụ được trong trung hạn.

Đến nay thì đã rõ là trong năm 2007 và quí I-2008, các ngân hàng đã mạnh tay cho vay ở một qy mô chưa từng thấy. Hình 5 cho thấy mức gia tăng dư nợ hàng tháng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và đặc biệt là ở TP.HCM. Đồ thị minh chứng rõ qui mô của tăng trưởng tín dụng. Phần lớn khối lượng tăng trưởng tín dụng xảy ra vào quí IV-2007 và quí I-2008 (trừ giai đoạn Tết Nguyên Đán vào tháng hai). Đỉnh điểm của sự bùng nổ tín dụng là tháng 12/2007, khi đó đã có 41 ngàn tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ USD) được bơm vào nền kinh tế từ các ngân hàng ở TP.HCM. Mặc dù một phần lượng tín dụng này có liên quan đến hoạt động sản xuất phục vụ tết và sự gia tăng nhập khẩu ô tô và thép, nhưng sự gia tăng đột biến chưa từng có này có trực tiếp liên quan đến đầu cơ bất động sản.
Nguồn : IMF và Cục Thống kê TP.HCM
Hình 5 cũng chỉ rõ rằng thực tế phần lớn sự bùng nổ cho vay là xuất phát từ các ngân hàng thương mại cổ phần. Việc tham gia vào bất động sản, gồm vốn vay cho cả chủ dự án lẫn người mua, đã đạt tỷ lệ cao đáng lo ngại ở nhiều ngân hàng. Theo NHNN, tính đến tháng 8/2008, hai trong tổng số 41 ngân hàng đã cho vay liên quan đến bất động sản chiếm hơn 50% tổng dư nợ của họ; 9 ngân hàng có tỷ lệ cho vay bất động sản trong tổng dư nợ hơn 30%; và 9 ngân hàng khác là hơn 20%. Mặc dù vẫn chưa thể khẳng định, nhưng có khả năng những con số này vẫn chưa phản ánh đúng qui mô của vấn đề dựa vào việc một số ngân hàng có xu hướng phân loại không đúng các khoản cho vay liên quan đến bất động sản nhằm che bớt mức rủi ro quá lớn của mình ở thị trường này.

Những chuyển động giá bất động sản ở khu Nam Sài Gòn, phân khúc thị trường bất động sản phát triển nhanh nhất và nóng nhất ở TP.HCM, cho thấy tại sao các ngân hàng quá sốt sắng cho vay bất động sản khi họ có trong tay quá nhiều tiền thanh khoản. Khách hàng của họ, gồn các nhà đầu tư bất động sản và cả giới đầu cơ, chính là những người thắng cuộc trong giai đoạn bùng nổ kinh tế của Việt Nam. Giá bất động sản đạt đỉnh điểm vào tháng giêng 2008, chỉ một tháng sau đỉnh điểm giải ngân nợ vay. Hàm ý của vấn đề là rất nhiều nhà đầu cơ đã vay tiền để mua bất động sản vào đúng lúc thị trường sốt lên cao độ.
Nguồn : Số liệu do tác giả thu thập qua phỏng vấn các công ty/cá nhân môi giới bất động sản
Bản chất lãi suất không cố định của hầu như tất cả các hợp đồng vay liên quan đến bất động sản khiến cho bên đi vay chịu tác động mạnh của việc tính thanh khoản bị thắt chặt. Các hợp đồng vay liên quan bất động sản thường định rõ sau giai đoạn 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm (với 1 năm là phổ biến nhất) lãi suất sẽ được điều chỉnh ngang bằng lãi suất tiền gửi lúc đó cộng thêm một khoản chênh lệch từ 3,7 đến 4,3%/năm. Trong số 180 ngàn tỷ đồng (11 tỷ USD) mức tăng tín dụng ròng mà các ngân hàng ở TP.HCM đã thực hiện trong 12 tháng qua, có 70,3% là cho vay trong vài tháng từ 11/2007 đến 3/2008. Như vậy, bắt đầu từ tháng 11/2008, một khối lượng lớn vốn vay sẽ đến hạn điều chỉnh lãi suất. Việc điều chỉnh lãi suất của các khoản vay này cũng có nghĩa là người đi vay sẽ phải chịu lãi suất 20-21%, hay 8-9 điểm phần trăm cao hơn lãi suất vay ban đầu. Chính vì vậy, thời điểm cuối năm nay có thể xảy ra một làn sóng không trả được lãi và nợ gốc do giá bất động sản suy giảm và do việc điều chỉnh chi phí vay nợ.

Sự xuống cấp chất lượng vốn vay bất động sản có điểm tương đồng với sự suy giảm của thị trường chứng khoán trong năm 2007. Tuy nhiên, khác với những hợp đồng mua bán cổ phiếu "repo" và hợp đồng cho vay chứng khoán theo đó các ngân hàng có thể tự động bán cổ phiếu cầm cố một cách tự động, việc giải chấp trong thị trường bất động sản sẽ cực kỳ khó khăn. Theo qui trình phá sản hiện nay, chủ nợ chỉ có thể bắt đầu thưa kiện sau 270 ngày tính từ lúc khoản vay quá hạn lần đầu tiên. Và một khi xảy ra tranh tụng, thường phải mất một năm rưỡi đểđấu giá tài sản thế chấp ở một trung tâm đấu giá theo chỉ định của toà. Chủ nợ không có quyền kiểm soát gì đáng kể trong toàn bộ quá trình này. Kết quả là ngân hàng chỉ có thể chọn cách dàn xếp không qua toà để hy vọng thu hồi là vốn vay của mình.

Giá bất động sản ở các khu đô thị mới tại TP.HCM đã giảm 40-50% so với mức đỉnh. Kỹ thuật thẩm định chuẩn mà các ngân hàng Việt Nam thường áp dụng là đánh giá bất động sản thế chấp ở mức 70% giá trị thị trường, sau đó cho vay tối đa 70% trên giá trị đánh giá. Ngay cả với nguyên tắc 70x70 có vẻ cẩn trọng này, nhiều đối tượng vay nợ đang tiến gần đến hoặc đã gánh chịu giá trị ròng âm của bất động sản. Nhiều người trong số họ sẽ có khả năng "bỏ của chạy lấy người" khỏi các khoản vay "hoàn toàn đổi chiều". Nhưng ngân hàng cũng không có quyền hạn pháp lý để thanh lý số bất động sản họ nắm trong tay. Do đó sẽ phải mất nhiều năm để tháo gỡ những nghĩa vụ nợ đã tích tụ trong giai đoạn bùng nổ tín dụng 2007-2008.

B. Nhu cầu cải cách khẩn cấp

Theo thông tin ghi nhận, các nhà lãnh đạo ngân hàng thường nói họ sẵn sàng "chia sẻ một số khó khăn mà khu vực doanh nghiệp đang gặp phải". Điều này có nghĩa là các ngân hàng có thể sẵn sàng tái cơ cấu và gia hạn lại các khoản lãi và nợ gốc không trả được tới đây. Theo hướng dẫn hiện hành của NHNN, một khoản vay được tái cơ cấu sẽ không bị xem là nợ khó đòi kèm theo điều khoản chỉ cần trích dự phòng 5% khoản chênh lệch giữa giá trị vốn vay và tài sản thế chấp. Như vậy, các ngân hàng và khách hàng vay gặp rắc rối của họ sẽ "đảo nợ" để làm mới các khoản vay, đồng thời tạo áp lực để Chính phủ nới lỏng chính sách tiền tệ. Đây là một tình huống vô cùng rủi ro và phải tránh không để xảy ra, vì nó sẽ kéo dài tình trạng yếu kém của nhiều tổ chức tài chính.

Việc nới lỏng tiền tệ (nghĩa là đạt tăng trưởng tín dụng bình quân hơn 2% một tháng, là mức tăng trưởng tính đến nay trong năm 2008) sẽ tiếp sức cho lạm phát và gây bất ổn tiền đồng Việt Nam, nhưng nó sẽ không giải quyết được vấn đề khan hiếm tín dụng. Ngân hàng tập trung đảo nợ thì không thể cho vay mới cho dù lãi suất có giảm. Trong môi trường này, Chính phủ phải cương quyết yêu cầu các ngân hàng giải quyết hoàn toàn lượng nợ xấu thay vì che dấu chúng. Chính phủ cần xem xét việc điều chỉnh thủ tục phá sản, theo hướng tạo thuận lợi hơn cho phía chủ nợ trong việc thanh lý tài sản thế chấp và xử lý nợ xấu. Và NHNN nên xem xét lại những hướng dẫn của mình trong việc hạch toán và báo cáo các khoản nợ được tái cơ cấu. Một số nhà quan sát có thể phản bác chính sách này với lập luận rằng việc tạo điều kiện cho các ngân hàng dễ dàng siết nợ hơn sẽ tước đi tài sản của những doanh nghiệp đang gặp khó khăn và chỉ có lợi cho giới đầu cơ nhiều tiền mặt. Tuy nhiên, chi phí của việc kéo dài vấn nạn nợ khó đòi sẽ lớn hơn nhiều. Do đó, Chính phủ cần đoạt quyền kiểm soát các ngân hàng mất khả năng thanh toán dưới hình thức tiếp quản hay bảo toàn tài sản, giao cho một ngân hàng thương mại của nhà nước quản lý hoạt động thường nhật của ngân hàng này. Làm như vậy, NHNN sẽ có thời gian để đánh giá một cách chính xác danh mục cho vay của ngân hàng thua lỗ, sau đó bán hoặc xoá sổ các khoản vay khó đòi. Nguyên tắc là phải nhắm đến việc bảo vệ người gửi tiền và những đối tượng đi vay tốt, chứ không nhằm bảo vệ người đầu cơ, chủ sở hữu hoặc những người quản lý ngân hàng. Một phần việc trong qui trình tiếp quản là phải thay thế các giám đốc ngân hàng cũ, và chủ sở hữu ngân hàng phải chấp nhận tổn thất vốn chủ sở hữu của mình.

Phần IV. Nhìn về phía trước : thách thức về mặt cơ cấu đối với tăng trưởng dài hạn

Việt Nam cần phải làm gì để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn ? Phân tích trong phần I chỉ ra mâu thuẫn chính trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam. Phần này xem xét mâu thuẫn này một cách chi tiết hơn trong bối cảnh của chính sách công nghiệp và đầu tư công.

A. Khu vực nhà nước

Mâu thuẫn căn bản đằng sau sự bất ổn kinh tế của Việt Nam, và chắc chắn sẽ cản trở triển vọng tăng trưởng dài hạn nếu không được giải quyết, là cấu trúc lưỡng đôi của nền kinh tế. Đóng góp của khu vực nhà nước vào nền kinh tế, tính theo giá trị gia tăng, tạo việc làm và xuất khẩu, là rất không tương xứng về mặt tỷ lệ với lợi ích mà khu vực này nhận được về tín dụng, đất đai và chính sách ưu đãi như khả năng được hưởng các hợp đồng nhiều lợi nhuận của Chính phủ.

Những khó khăn kinh tế trong năm nay đã làm hồi sinh thảo luận ở Việt Nam về vai trò của khu vực nhà nước nói chung và của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nói riêng. Tuy vậy, những giải pháp thực hiện cho tới nay có thể được mô tả là mang tính tình thế, thắt lưng buộc bụng nhằm khôi phục sự ổn định trong ngắn hạn. Phản ứng của các tập đoàn trước sự kêu gọi cắt giảm chi tiêu của Chính phủ cho thấy điều này. Rất nhiều công ty tuyên bố quyết định giảm quy mô đầu tư đáng kể trong năm 2008. Vinashin dẫn đầu với thông báo giảm 60% tổng đầu tư trong kế hoạch 2008. Chúng tôi chia sẻ với những quan ngại mà các nhà kinh tế Việt Nam đã lên tiếng về tốc độ nhanh chóng mà các doanh nghiệp này có thể quyết định những cắt giảm sâu rộng. Thứ nhất, người ta không thể không suy nghĩ rằng liệu các dự án được loại bỏ hay trì hoãn ban đầu có thực sự được dự kiến triển khai hay là chỉ dựa vào trong kế hoạch và công bố rộng rãi vì những lý do chính trị. (Điều này không thể biết được nếu không có thêm thông tin). Thứ hai, các quyết định này gây ra những quan ngại nghiêm trọng về chất lượng quản lý doanh nghiệp. Các công ty hoạt động vì lợi nhuận thực hiện quyết định đầu tư sau khi đã nghiên cứu rất kỹ càng; khó có khả năng Vinashin (được biết là đang gặp khó khăn huy động vốn nếu không có bảo lãnh của Chính phủ) có thể nhẹ nhàng chấm dứt các dự án của mình nếu ban quản lý đã dày công xem xét và xác định rõ được khả năng sinh lợi của các dự án này. Thậm chí còn đáng báo động hơn là tốc độ nhanh chóng mà Vinashin đã quay ngoặt quyết định của mình. Tới tháng 7, Vinashin tuyên bố chuẩn bị thành lập liên doanh mới với một tập đoàn của Ma-lay-xi-a để xây dựng nhà máy thép ở Ninh Thuận với tổng đầu tư 3 tỷ USD. Đến tháng 8, mức đầu tư đã được điều chỉnh lên 10 tỷ USD. Những thói quen cũ là rất khó rũ bỏ.

Một xu hướng đặc biệt đáng ngại là việc các tập đoàn công nghiệp chuyển sang kinh doanh tài chính. Những tập đoàn nhà nước lớn của Việt Nam như Petro Việt Nam, EVN, Vinashin, FPT, Vinatex và Vinacomin đã mở ngân hàng, công ty tài chính, công ty chứng khoán, công ty thuê mua và công ty bảo hiểm. Những hoạt động này cho phép các tập đoàn kinh tế nhà nước sử dụng tài sản quốc gia và vị trí ưu đãi của mình để huy động vốn vay và kinh doanh trên thị trường nôi địa. Cho phép xu thế này diễn ra sẽ tạo ra một số rủi ro trước mắt cho Chính phủ. Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ mất kả năng kiểm soát lại cung tiền nếu các doanh nghiệp công nghiệp được phép thiết lập các tổ chức có khả năng tạo tín dụng cho chính mình. Thứ hai, cho vay trong nội bộ tập đoàn là một việc làm hết sức rủi ro, chuyển tín dụng khỏi hoạt động kinh doanh vững mạnh sang những dự án kém xứng đáng hơn. Sự phá sản của ngân hàng mà một phần là có liên quan tới việc cho vay trong nội bộ tập đoàn đã làm nảy sinh khủng hoảng tài chính ở nhiều nước đang phát triển tại châu Á và châu Mỹ La-tin. Thứ ba, những tổ chức tài chính này tạo ra các công cụ cho phép lãnh đạo doanh nghiệp có thể chuyển tài sản từ doanh nghiệp công sang doanh nghiệp tư, dưới hình thức các công ty cổ phần là công ty con của DNNN.

Một lập luận thường được đưa ra là các tập đoàn ở Việt Nam chỉ đơn giản là đi theo con đường của các tập đoàn keiretsu Nhật Bản hay chaebol Hàn Quốc. Những so sánh này là không đúng vì một số lý do. Ví dụ, các chaebol không được phép lập ngân hàng và các ngân hàng trong một thời kỳ dài được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Mặc dù cấu trúc keiretsu được hình thành xung quanh một ngân hàng chính, những công ty này không phải là tập đoàn như ở Việt Nam mà là những liên minh mang tính phi tập trung giữa các doanh nghiệp được liên hệ với nhau bởi sở hữu chéo. Dù thế nào thì mô hình keiretsu cũng đã được chứng minh là không còn giá trị vào thập niên 90, khi Nhật Bản rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính sâu rộng và kéo dài do vô vàn các khoản nợ xấu và quản lý ngân hàng yếu kém. Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng trong thập niên 90 vẫn còn cảm nhận được vào ngày hôm nay. Tác động của khủng hoảng kéo dài như vậy là do các ngân hàng chỉ thanh lý và xoá nợ xấu một cách từ từ.

Chính phủ tiếp tục quyết tâm giữ vững vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước bất kể kết quả hoạt động khách quan của những doanh nghiệp trong khu vực này. Cuối cùng thì đây sẽ là một quyết định chính trị phản ánh những ưu tiên và chiến lược của quốc gia. Thật sự là không có lý do nào về mặt lý thuyết cho rằng DNNN không thể có tính cạnh tranh như các doanh nghiệp tư nhân. Ta không được rơi vào cái bẫy mà nhiều nhà kinh tế đã mắc phải khi cho rằng tất cả các doanh nghiệp tư nhân là hiệu quả còn DNNN thì không(11). Xing-ga-po và gần đây là Trung Quốc đã chứng minh các DNNN có thể cạnh tranh toàn cầu. Một số DNNN của Việt Nam được vận hành tốt ngay cả khi phải thực hiện các nghĩa vụ "xã hội" và chịu đựng những can thiệp khác. Nếu những doanh nghiệp này được phép cạnh tranh với ít nghĩa vụ công ích hơn (trừ khi là được nhà nước trả tiền) hay được điều tiết một cách khôn khéo hơn thì họ có thể đóng một vai trò hữu hiệu trong tương lai tăng trưởng của Việt Nam.

Mâu thuẫn căn bản trong chính sách của Việt Nam không phải là giữa toàn cầu hoá và sở hữu nhà nước mà là nỗ lực hướng tới tính cạnh tranh quốc tế của Chính phủ trong khi cố giúp những ngành chủ đạo của nền kinh tế tránh khỏi cạnh tranh toàn cầu. Xing-ga-po và Trung Quốc đã tạo dựng được những công ty cạnh tranh bằng cách áp đặt kỷ luật thị trường lên những doanh nhiệp nhà nước cũng như tư nhân của họ và đặc biệt là dùng cạnh tranh quốc tế làm thước đo tin cậy nhất cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. DNNN không thể tăng trưởng và cạnh tranh nếu không có các nhà quản lý có kinh nghiệm, được đào tạo bài bản với biên chế và chính sách lương bổng được gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (12). Các doanh nghiệp sẽ không thể cạnh tranh toàn cầu nếu được biểu dương thành tích tạo lợi nhuận trên giấy, được hình thành từ các dự án bất động sản mang tính đầu cơ, xây dựng trên đất đai của nhà nước và tài trợ bởi vốn với giá rẻ. Kỷ luật thị trường không thể được thiết lập nếu các doanh nghiệp không bị buộc phải chịu kiểm toán và rà soát độc lập với kết quả được công bố cho người dân Việt Nam, những người chủ sở hữu thật sự của các tài sản quốc gia này.

Mâu thuẫn then chốt giữa nỗ lực muốn có được tính cạnh tranh và sự không sẵn sàng cạnh tranh được minh hoạ rõ nét trong Bảng 4 với xếp hạng gần đây của hai chỉ số hàng đầu về tính cạnh tranh: báo cáo "Làm kinh doanh" (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới và Chỉ số tính cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Việt Nam được xếp hạng gần cuối trong khu vực Đông Á, và thứ hạng này lại thay đổi theo chiều ngược. WEF cho Việt Nam thấp điểm ở tiêu chí mức độ phức tạp của hoạt động kinh doanh với thứ hạng 126 trên 131 về "bản chất của lợi thế cạnh tranh". Nói cách khác, lao động rẻ vẫn là lợi thế lớn nhất của Việt Nam. Giống như "Báo cáo phát triển tài chính" của WEF được đề cập ở trên, Việt Nam có điểm vô cùng thấp về mức độ bảo vệ nhà đầu tư (170 trong 180 quốc gia của báo cáo "Làm kinh doanh" và 121 trong 131 trong Chỉ số tính cạnh ranh toàn cầu). Trong một môi trường với các thông lệ kinh doanh không minh bạch và thiếu trách nhiệm giải trình, các nhà đầu tư nghiêm túc không có cách gì để giám sát kết quả hoạt động của giám đốc, của doanh nghiệp và theo đó mà phân bổ đầu tư. Một môi trường như vậy sẽ hấp dẫn nhất đối với những nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận nhanh chóng dựa trên một hình thức ưu đãi đặc biệt.

Mặc dù ta có thể đưa ra những chỉ trích hoàn toàn hợp lý về cách mà những chỉ số này được tính toán, nhưng rõ ràng việc Việt Nam luôn có điểm thấp không phải là một sự tình cờ. Những xếp hạng này được các nhà đầu tư quốc tế theo dõi một cách sát sao. Các kết quả này cho thấy Chính phủ còn cần những nỗ lực lớn hơn nữa để cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài. Chỉ đơn giản lập lại ổn định kinh tế vĩ mô sẽ không đủ để duy trì tính hấp dẫn của Việt Nam.
Nguồn : Ngân hàng Thế giới và Diễn đàn Kinh tế Thế giới
B. Đầu tư công

Như đã lập luận ở trên, tăng trưởng của Việt Nam trong những năm vừa qua có đặc điểm là phụ thuộc quá mức vào đầu tư. Một trong những nguyên nhân gây lạm phát là lãng phí trong đầu tư công do DNNN thực hiện hay các dự án cơ sở hạn tầng do Chính phủ làm trực tiếp. Chính phủ đã tuyên bố cắt giảm đầu tư công ở mức độ vừa phải. Đây là một quyết định đáng khâm phục. Tuy nhiên tuyên bố không thôi như vậy thì chưa đủ. Thứ nhất, danh mục các dự án cụ thể sẽ được trì hoãn hay cắt giảm vẫn chưa được nêu ra. Thứ hai, những quyết sách gần đây cho thấy chiến lược dàn trải các dự án đầu tư ra khắp mọi nơi mà không xem xét cặn kẽ tới hiệu quả vẫn chưa được thay đổi.

Các quyết định đầu tư công mà Việt Nam đưa ra bây giờ sẽ có ảnh hưởng sâu rộng trong tuong lai. Hiện tại, những quyết định không được thực hiện vì lý do kinh tế. Hai trường hợp điển hình là việc phát triển cảng biển và lọc dầu. Theo lô-gic về mặt kinh tế, một quốc gia có quy mô như Việt Nam sẽ cần nhiều nhất là hai cảng biển quốc tế lớn(13). Nhưng Chính phủ hiện có kế hoạch đầu tư xây dựng không ít 100 cảng dọc theo bờ biển. Các cảng này thường được đề xuất và triển khai bởi các DNNN và chính quyền các tỉnh. Hình 4 minh hoạ các cảng biển đang hay dự kiến sẽ được phát triển với quy mô đầu tư lớn.
Nguồn : Tổng hợp của tác giả từ quy hoạch phát triển của Chính phủ
Việc chính phủ gấp rút chuẩn bị xây dựng thêm hai nhà máy lọc dầu (ở Thanh Hoá và Khánh Hoà) cũng có thể sai hướng. Với sự gia tăng giá dầu trên toàn thế giới, việc điều chỉnh dần dần để giảm tốc độ tăng nhu cầu sẽ xảy ra. Tỷ lệ lợi nhuận của hoạt động lọc dầu sẽ chịu áp lực suy giảm. Đổ hàng tỷ đô-la vào các dự án lọc dầu lúc này là hoàn toàn không đúng thời điểm. Những nhà sản xuất quốc tế lớn đã cắt bỏ kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu mới và một số đang chủ động giảm công suất. Nếu các đối tác thương mại nước ngoài thực sự là những nhà đầu tư lớn vào các dự án này của Việt Nam thì rất có nhiều khả năng đến nay các kế hoạch triển khai đã bị trì hoãn hay xoá bỏ.

Chi phí của các dự án này trong dài hạn là rất lớn. Thứ nhất, đó là một cơ hội bị đánh mất. Việt Nam hiện không đầu tư đúng mức vào những cơ sở hạ tầng mà mình cần nhất như các vùng đô thị hoá nhanh chóng ở Hà Nội và TP.HCM. Thứ hai, khi Chính phủ đầu tư quá mức vào cơ sở hạ tầng không cần thiết thì có nghĩa là sẽ đầu tư quá ít cho những lĩnh vực thiết yếu như giáo dục và y tế, những lĩnh vực sẽ có tác động lớn để tính cạnh tranh dài hạn của quốc gia.

KẾT LUẬN. Khuyến nghị chính sách

Chủ đề chính của bài viết chính sách này là Việt Nam cần phải xử lý các mâu thuẫn về cơ cấu trong nền kinh tế để đặt mình vào vị thế tăng trưởng dài hạn. Chúng tôi cho rằng các giải pháp tạm thời mang tính chiến thuật đã phát huy tác dụng trong ngắn hạn, nhưng không thể giải quyết được những trục trặc về cơ cấu. Các khyến nghị dưới đây là nhằm để giải quyết các vấn đề cơ cấu này :

A. Chính sách công nghiệp

- Ngay lập tức chỉ định các công ty kế toán quốc tế có uy tín thực hiện kiểm toán chi tiết các tập đoàn, tổng công ty và công bố kết quả. Tất cả các DNNN phải được yêu cầu công bố báo cáo thường xuyên trực tuyến, trong đó có các báo cáo tài chính đã được iểm toán
- Tái cơ cấu bộ máy hội đồng quản trị (HĐQT) của những doanh nghiệp này để đảm bảo HĐQT có thể giám sát kết quả hoạt động một cách độc lập và khách quan. Giám đốc quản lý phải chịu trách nhiệm về thành quả của doanh nghiệp mình. Tái cấu trúc đội ngũ quản lý của những DNNN kinh doanh thua lỗ, với việc sử dụng năng lực bên ngoài nếu cần.
- Tăng tốc việc thực thi các cam kết WTO để gia tăng áp lực cạnh tranh cho khu vực quốc doanh và loại bỏ các đặc quyền về kinh doanh, bao gồm cả vị thế độc quyền riêng rẽ, độc quyền nhóm vốn làm giảm hiệu quả và đổi mới.
- Tăng tốc việc cổ phần hoá các DNNN lớn theo kinh nghiệm đi trước của Trung Quốc và Xing-ga-po.
- Tạo một chính sách hữu hiệu để cung cấp điện ổn định trong mọi thời điểm. Điều này có nghĩa là đưa ra các khuyến khích đầu tư nhiệt điện và định giá điện, ít nhất là đối với công nghiệp và hộ gia đình tiêu thụ lớn, ở mức đủ để bù đắp cho tất cả các chi phí, từ đó loại bỏ các khoản trợ cấp ngầm, loại bỏ những yếu tố gây bất lợi trong việc thu hút đầu tư xây dựng nhà máy phát điện.

B. Chính sách tiền tệ

- Chính sách tiền tệ cần phải được tiếp tục thắt chặt trong ngắn hạn (với tốc độ tăng trưởng không quá 2%/tháng) để phòng chống khả năng tái diễn việc tháo chạy khỏi tiền đồng vốn đã làm xáo trộn hoạt động kinh doanh bình thường vài tháng trước đây và gây ra tình trạng lạm phát cao cùng với thâm hụt thương mại.
- NHNN cần phải công bố việc thực hiện chính sách điều tiết tỷ giá hối đoái thực (thay vì tỷ giá danh nghĩa) và theo đuổi chính sách này một cách nhất quán để đảm bảo rằng các nhà xuất khẩu không bị bất lợi về giá và nhập khẩu không tràn ngập thị trường nội địa.
- NHNN cần áp đặt việc giám sát chặt chẽ hơn nữa đối với các ngân hàng và thực hiện các biện pháp quyết đoán và tức thời để củng cố hệ thống ngân hàng, bao gồm việc đoạt quyền kiểm soát của các ngân hàng mất khả năng thanh toán dưới hình thức tái cấu trúc hay thanh lý tài sản tuỳ theo mức độ mất kả năng thanh toán. Trong giai đoạn này, hoạt động quản lý hàng ngày được trao cho một ngân hàng thương mại quốc doanh. NHNN sau đó sẽ bán hay xoá các khoản nợ xấu với mục tiêu là bảo vệ người gửi tiền và những người vay tốt. Người vay tiền để đầu cơ bất động sản sẽ mất tài sản thế chấp; đội ngũ giám đốc quản lý hiện hữu của ngân hàng sẽ mất việc; và chủ sở hữu sẽ mất vốn.
- Bô Tài chính phải tạm thời ngưng cho phép thành lập các tổ chức cho vay phi ngân hàng mới và thực hiện kiểm toán một cách cẩn hận các tổ chức hiện hữu để xác định xem giá trị mà các tổ chức này tạo ra cho nền kinh tế có tương ứng với sự gia tăng rủi ro hệ thống gắn với hoạt động của họ hay không. Nếu những tổ chức này không thực sự có lợi thế so sánh với ngân hàng ngoại trừ khả năng né tránh các quy định về an toàn tài chính thì chúng cần được chấm dứt hoạt động trước khi tích luỹ quá nhiều nợ xấu.

C. Chính sách ngân sách

- Ban hành quy định về báo cáo phân tích chi phí - lợi ích một cách chi tiết và công bố rộng rãi đối với các dự án đầu tư công trước khi phê duyệt. Công bố danh mục 100 dự án đầu tư công lớn nhất với các nghiên cứu đánh giá chi phí - lợi ích đi kèm. Dự án không có đánh giá sẽ bị đình chỉ.
- Loại bỏ tín dụng chỉ định và trợ cấp để đảm bảo lượng vốn khan hiếm được hướng đến những dự án có suất sinh lợi cao nhất trong cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh.
- Đất đai cần phải được định giá theo giá thị trường trong tất cả các giao dịch của Chính phủ và doanh nghiệp, bao gồm giao dịch giữa các DNNN và giữa các cơ quan nhà nước để giảm hoạt động trục lợi và đầu cơ đất đai.
- Gia tăng sự tham gia thực chất của khu vực tư nhân trong các dự án phát triển hạ tầng, nhưng đánh giá một cách cẩn thận năng lực kỹ thuật và tài chính của các doanh nghiệp tư nhân tham gia xây dựng dự án. Không cấp phép cho các dự án trá hình dưới dạng BOT nhưng thực ra được triển khai bởi các công ty có quan hệ đặc biệt, không hề bỏ vốn chủ sở hữu hay bỏ vốn không đáng kể, hưởng bảo lãnh hoàn toàn của Chính phủ đối với việc tài trợ bằng nợ vay và được thêm ưu đãi từ việc đổi đất lấy hạ tầng. Những dự án tiến hành theo hình thức này chỉ khuyến khích việc vay nợ quá mức, hình thành các liên minh khai thác đất đai, và cho các chủ dự án hưởng hết lợi nếu thành công, nhưng không hề chịu thiệt hại nếu thất bại.

D. Quản lý nhà nước

- Tăng cường Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia để thu thập, xử lý và phân tích thông tin về hệ thống tài chính. Cung cấp đủ nguồn lực để Uỷ ban có thể hoàn thành trách nhiệm của mình.
- Tái cấu trúc Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để cho phép hai cơ quan nhà nước này thực hiện chức năng của mình.
- Xây dựng một hệ thống báo cáo dữ liệu kinh tế và tài chính cởi mở hơn.

--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích :
(11) Ví dụ nổi tiếng là việc Ngân hàng Thế giới khuyến cáo Chính phủ Hàn Quốc không nên đầu tư vào ngành thép. Nhưng cho đến thập niên 80, công ty POSCO thuộc sở hữu nhà nước là một trong các nhà sản xuất thép hiệu quả nhất thế giới.
(12) Sự khác biệt giữa Xing-ga-po và Việt Nam về hiệu quả điều hành của giám đốc DNNN là vô cùng lớn. Đã có thông tin cho biết một số DNNN trong ngành đóng tàu của Việt Nam không có khả năng trả lương cho công nhân từ mùa xuân. Ở những nước khác, đội ngũ giám đốc của một doanh nghiệp như thế sẽ bị đào thải trước một kết quả hoạt động không thể chấp nhận được như vậy. Giám đốc các DNNN ở Việt Nam dường như không bị buộc phải chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động của doanh nghiệp mình.
(13) Cảng biển lớn là nơi "tàu mẹ" với tải trọng trên 100.000 tấn có thể nhận và trả công-ten-nơ. Chỉ khu vực Hà Nội - Hải Phòng và TP.HCM là có đủ hoạt động kinh tế để hỗ trợ các tàu này. Xây dựng hệ thống đường sắt tốt hơn để kết nối miền Trung với Hải Phòng hay Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ hiệu quả hơn là mở rộng cảng của tất cả các tỉnh ven biển.

Xin cám ơn GS Trần Hữu Dũng đã cung cấp tài liệu này !

 

hoanggiavietnam
Công ty Cổ phần Hoàng Gia Việt Nam
Trụ sở chính
Địa chỉ: Phòng 708, nhà CT3-1, Mễ Trì Hạ, Từ Liêm, Hà Nội
Văn phòng : Số 1/189, Giảng Võ, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 84 4 22411214 - Fax: 84 4 62732575, Email: info@hoanggiavietnam.com.vn
ITALIA Office:
Piazza pertini 4 20043 Arcore, Italy Tel: +39 039 618 0562 Fax: +39 039 620 1931, Email: jigsaw@hoanggiavietnam.com.vn
Bangladesh office:
147/6 Green Road(pantho Green), 9th floor Dhaka-1205, Bangladesh Tel/Fax: 88 02 761 6440, Email: aum@hoanggiavietnam.com.vn