Chủ tịch
Hội đồng quản trị
QUẢNG CÁO
Hỗ trợ trực tuyến
Nhóm kinh doanh
Lượt truy cập:
341,588

Tin tức & Sự kiện
Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

31/12/2008 11:32

Chùm ảnh
(VHDN.VN) - Sau hai năm Việt Nam gia nhập WTO, kinh tế nói chung và ngành gỗ Việt Nam nói riêng đã chịu những tác động mạnh mẽ. Trong đó có cả tác động tích cực và bên cạnh đó là những khó khăn, thách thức.

Những điểm mạnh và điểm yếu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Những điểm mạnh

- Số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ phát triển nhanh đặc biệt là doanh nghiệp chế biến gỗ đã lên tới 2562 DN,... trong đó có trên 1450 DN tư nhân và 421 DN FDI.
- Đã hình thành các cụm công nghiệp chế biến gỗ có quy mô lớn ở Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bình Định và Quảng Nam.
- Do thu hút được nhiều DN FDI nên các DN gỗ Việt Nam đã tiếp cận và đã áp dụng công nghệ chế biến gỗ hiện đại để sản xuất mặt hàng gỗ xuất khẩu.
- Thị trường xuất khẩu được mở rộng. Ngoài các thị trường trọng điểm như Mỹ, EU và Nhật, các sản phẩm gỗ Việt Nam đã và đang thâm nhập vào thị trường Đông Âu, Trung Đông và Nam Mỹ;
- Về cơ chế chính sách quản lý ngành công nghiệp chế biến gỗ, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Những điểm yếu

- Trên phạm vi toàn quốc phân bố DN chế biến gỗ không đều. Trong số 2526 DN chế biến gỗ thì Miền Bắc chỉ chiếm 14%; vùng Bắc Trung Bộ chiếm 6%; còn lại 80% tập trung ở Vùng Duyên Hải Trung Bộ và Miền Nam.
- Các doanh nghiệp chế biến gỗ thuần Việt Nam yếu thế hơn các DN chế biến gỗ có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
- Nguồn nguyên liệu gỗ chủ yếu dựa vào nhập khẩu. Nguồn gỗ trong nước chỉ đáp ứng được 20%.
- Năng lực cạnh tranh các sản phẩm gỗ Việt Nam yếu hơn các sản phẩm của Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan;
- Ngành công nghiệp phù trợ của Việt Nam (đồ cơ khí, sơn, keo, các loại giấy,...) rất yếu;
- Thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và năng xuất lao động thấp;
- Thiếu thông tin thị trường quốc tế;
- Chính sách tín dụng đầu tư cho ngành chế biến gỗ chưa thích đáng;
- Chính sách về thuế đất, tích tụ đất trồng rừng. Rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa thông thoáng; các doanh nghiệp chế biến gỗ khó tiếp cận với đất và rừng để xây dựng vùng nguyên liệu;

Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Thực trạng xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2006, 2007 và dự kiến năm 2008

- Năm 2006: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt: 1,93 triệu USD;
- Năm 2007 tăng lên 2,4 tỷ USD và dự kiến năm 2008 đạt 2,8 tỷ USD;
- Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2008 giảm so với năm 2007 và 2006;

Nguyên nhân giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ

- Tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ. Theo ước tính thì nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm gỗ của người Mỹ và các nước EU năm 2008 giảm đến 30%, do đó kéo theo sự giảm sút về sản xuất kinh doanh của các DN chế biến gỗ Việt Nam.
- Năm 2008, Chính phủ tập trung nỗ lực để kìm chế lạm phát và giảm nhập siêu. Điều đó hoàn toàn đúng với quy mô quốc gia. Nhưng đối với một ngành sản xuất cụ thể như ngành gỗ mà nguồn nguyên liệu chủ yếu dựa vào nhập khẩu thì quả là một khó khăn. Với đầu ra của sản phẩm sản xuất luôn không thay đổi, trong khi đầu vào (chi phí) là những con số biến đổi theo chiều hướng tăng. Lợi nhuận của sản phẩm gỗ xuất khẩu tối đa cũng chỉ được 10%, trong khi các yếu tố đầu vào tác động đến giá thành từ 18% - 20% là một gánh nặng đối với doanh nghiệp.
- Xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn cụ thể: các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Hoa Kỳ và EU có sự kiểm soát chất lượng, nguồn gỗ gỗ với các luật lệ mới được ban hành như: đạo luật LACEY của Mỹ, căn cứ vào đạo luật này, hành động lấy gỗ khai thác, sử dụng, vận chuyển, bán hoặc xuất khẩu không tuân thủ quy định của luật pháp bất kỳ quốc gia nào được xem là vi phạm luật tại Hoa Kỳ. Hay ở EU sẽ thực hiện Hiệp định "Tăng cường thực thi luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ" (FLEGT). Theo Hiệp định này tất cả các chuyến hàng xuất khẩu vào thị trường này sẽ được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép sau khi kiểm tra tính hợp pháp của các lô hàng thông qua các bằng chứng gốc.
- Giá dầu tăng dẫn đến giá vận chuyển nguyên liệu tăng rất cao, từ Nam Phi về Việt Nam giá vận tải chiếm 27% giá gỗ, từ Nam Mỹ là 37% và từ Nam Thái Bình Dường là 45%,...
- Sức cạnh tranh mua nguyên liệu của Việt Nam yếu hơn Trung Quốc, Malaysia, Indonexia,...
- Đánh giá nghiệm thu chất lượng gỗ nhập khẩu mất nhiều thời gian và thủ tục dẫn đến chi phí tăng;

Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành CNCBG những năm gần đây

- Giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến lâm sản (tính theo phương pháp công xưởng) tăng mạnh trong thời kỳ 2000-2005, so với năm 2000, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 bằng 4,44 lần theo giá trị thực tế và 2,9 lần tính giá so sánh năm 1994. Tổng giá trị thực tế năm 2000 đạt: 13.500 tỷ đồng, năm 2005 đạt: 60.059 tỷ đồng, sấp sỉ 4 tỷ USD (tính giá thực tế). Năm 2006 -2008 bằng 2,5 lần so với thời kỳ năm 2000 - 2005.
- Năm 2005, 1 đồng vốn đầu tư (TSCD) làm ra 9,67 đồng giá trị sản xuất theo giá thực tế (tính toán trên số liệu của Tổng cục thống kê, 2005). Theo số liệu điều tra điển hình 60 DN trong nước chế biến đồ gỗ xuất khẩu của tỉnh Bình Định cho thấy chỉ tiêu này thấp hơn: năm 2006: 3,18; năm 2007: 3,7 và 2008: 4,0. Nếu tính chỉ tiêu hiệu quả đồng vốn (cố định và lưu động): năm 2006 cần 1,07 đồng vốn để sản xuất ra 1 đồng doanh thu, năm 2007: 0,97 và năm 2008 ước tình là 0,91.
- Chỉ tiêu doanh thu thuần/vốn (1 đồng vốn làm ra được bao nhiêu đồng doanh số) bình quân thời kỳ 2000 - 2006 đạt 1,259 tăng dần từ năm 2001 đến 2006, chỉ tiêu này năm 2006 đạt 1,267.
- Nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ không cao. Tỷ suất lợi nhuận (trước thuế)/vốn bình quân của cả nước đạt 2,5%; các DN miền Nam đạt 5,48%, cao hơn các DN Miền Bắc gấp gần 14 lần, Miền Bắc chỉ đạt 0,04%, đại bộ phận DN lỗ, lớn nhất DN vùng tây Bắc đến - 6,8%. Doanh nghiệp vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có tỷ suất lợi nhuận cao nhất 9,24%, thứ đến là vùng Đông Nam Bộ 3,28%, các doanh nghiệp vùng Tây Nguyên cũng lỗ, tỷ suất lợi nhuận đạt - 0,35%.
- Năng suất lao động tính theo chỉ tiêu doanh thu/lao động bình quân các DN cả nước thời kỳ 2000- 2006 đạt: 65,689 triệu đồng/lao động, tăng đều hàng năm. Năm 2006 dạt 123,265 triệu đồng bằng 176% năm 2000, tốc độ tăng bình quân 10,85%/năm. Chỉ tiêu này của 60 DN tình Bình Định là: năm 2006 đạt 102 triệu đồng/LD/năm (6180 USD); 130 triệu đồng (2007) và 154 triệu đồng (2008). Thu nhập bình quân của người lao động là 12 triệu đồng/năm năm 2006; 13 triệu đồng/năm năm 2007 và 16 triệu đồng (2008).

 Một số giải pháp phát triển ngành Công nghiệp chế biến gỗ

Về các giải pháp duy trì mức tăng trưởng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu:
Các giải pháp thị trường:
- Tăng cường cộng tác XTTM, thị trường ngoài nước, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu, giảm sự phù thuộc vào thị trường truyền thống và phát triển các thị trường mới;
- Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại bằng cách tập trung, không dàn đều. Phát triển mạnh hội chợ trong nước, Nhà nước hỗ trợ triển lãm trong nước bằng cách quảng bá thông tin để thu hút khách hàng đến hội chợ. Thu hút khách nước ngoài đến Việt nam vừa xem hàng, vừa phát triển du lịch, giảm chi tăng thu ngoại tệ, góp phần quân bình cán cân nhập siêu.
Các giải pháp đảm bảo sản xuất nguồn nguyên liệu trong nước bền vững, hạn chế nhập siêu:
Nguồn nguyên liệu là mạch máu của sản xuất. Tài nguyên gỗ, tuy là tài nguyên tái tạo nhưng cũng may mắn là tái sinh được. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách sử dụng gỗ tiết kiệm, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường và khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng nguyên liệu gỗ.
 Về chính sách:
- Nhà nước cần có những cơ chế mạnh hơn và hữu hiệu hơn về quy hoạch và cơ cấu lại ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Đặc biệt cần hạn chế tối đa xuất khẩu các sản phẩm thô và làm gia công để nâng cao giá trị gia tăng cho đất nước.
- Nhà nước cần sớm cụ thể hóa luật đất đai về lâm nghiệp để các Doanh nghiệp tiếp cận được với đất để trồng rừng đảm bảo ổn định nguồn nguyên liệu phát triển sản xuất một cách bền vững.

Tác giả Nguyễn Tôn Quyền - Viforest  
http://www.vhdn.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=5514:nganh-cong-nghiep-che-bien-go-v
Công ty Cổ phần Hoàng Gia Việt Nam
Trụ sở chính
Địa chỉ: Phòng 708, nhà CT3-1, Mễ Trì Hạ, Từ Liêm, Hà Nội
Văn phòng : Số 1/189, Giảng Võ, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 84 4 22411214 - Fax: 84 4 62732575, Email: info@hoanggiavietnam.com.vn
ITALIA Office:
Piazza pertini 4 20043 Arcore, Italy Tel: +39 039 618 0562 Fax: +39 039 620 1931, Email: jigsaw@hoanggiavietnam.com.vn
Bangladesh office:
147/6 Green Road(pantho Green), 9th floor Dhaka-1205, Bangladesh Tel/Fax: 88 02 761 6440, Email: aum@hoanggiavietnam.com.vn